Lịch sử

Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp (Centre National de la Recherche Scientifique - viết tắt là CNRS), được thành lập năm 1939, sau khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 vừa mới bùng nổ. Nhờ sáng kiến của một số nhà khoa học có tên tuổi thời bấy giờ của Pháp, trong đó có nhà Vật lý Jean Perrin - đã từng đoạt giải Nobel năm 1926, CNRS đã được thành lập để  phối hợp các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và  nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, trong những năm đầu, một số lĩnh vực khoa học ứng dụng như radar, khoa học nguyên tử và  chế biến thực phẩm đã được ưu tiên phát triển, nhằm phục vụ nhu cầu thời chiến. Từ năm 1945, sau khi chiến tranh kết thúc, CNRS bắt đầu lưu ý đến sự phát triển của các ngành khoa học cơ bản. Còn những đề tài khoa học ứng dụng được nghiên cứu tại một số cơ quan chuyên ngành, như Trung tâm Nguyên tử lực - CEA (Commissariat à l’Energie Atomique) và  Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Viễn thông - CNET (Centre National d’Etudes des Tlécommunications)... Ngoài những phòng thí nghiệm riêng của CNRS, còn có những đơn vị mà CNRS lập ra để  liên kết với những phòng thí nghiệm của các trường đại học và  các cơ quan nghiên cứu như Đài Thiên văn Paris, nhằm bao quát thêm nhiều lĩnh vực khoa học, như thiên văn học, sinh học, môi trường, kinh tế và  xã hội học... Những đơn vị nghiên cứu quy mô lớn của CNRS, như  Viện Quốc gia Khoa học Vũ trụ (Institut National des Sciences de l’Univers), Viện Quốc gia Vật lý Hạt nhân và  Vật lý Hạt cơ bản (Institut National de Physique Nucléaire et de Physique des Particules) cũng đã được thành lập để  làm và  quản lý những thiết bị nghiên cứu khoa học lớn có tầm cỡ quốc tế. CNRS còn lập ra Bộ môn Khoa học Kỹ sư, có nhiệm vụ triển khai những nghiên cứu cơ bản có khả năng dẫn đến những kết quả đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghiệp. Các phòng thí nghiệm của CNRS còn cộng tác với Viện Quốc gia Sức khoẻ và  Nghiên cứu Y học (Institut National de la Santé et de la Recherche Médicale).

Nhiều nhà khoa học nổi tiếng của  Pháp đã và đang làm việc tại CNRS, trong đó có khoảng 20 người đã đoạt giải Nobel, hoặc huy chương Fields trong ngành toán học. Ông Frédéric Joliot - Curie, người đoạt giải Nobel Hoá học năm 1935 - chính là một trong những Tổng Giám đốc đầu tiên của CNRS.  

 

ĐOÀN TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC QUỐC GIA PHÁP THĂM BẢO TÀNG THIÊN NHIÊN  VIỆT NAM

Tổ chức CNRS hiện nay

 

Trong những năm gần đây, vấn đề ngân quỹ bị hạn chế đã ảnh hưởng phần nào đển hiệu quả của CNRS. Nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra tại Pháp để  đòi tăng ngân quỹ dành cho nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, sau nhiều năm hoạt động, CNRS cũng cần phải thay đổi về mặt tổ chức để  đáp ứng sự tiến triển nhanh chóng của khoa học. Năm 2001, Hội đồng Nhà nước (Cour des Comptes) sau khi xem xét lại những hoạt động của CNRS trong nhiều năm qua, đã khuyến nghị CNRS nên cải cách phương thức hoạt động để tăng cường hiệu quả hơn nữa.

Sau nhiều cuộc thăm dò ý kiến, CNRS đã bắt đầu cuộc đổi mới từ đầu năm 2006. Giờ đây, CNRS là một cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật nhà nước thuộc Bộ Nghiên cứu. Cơ quan điều hành và  quản lý gồm có một Chủ tịch và  một Tổng Giám đốc.

CNRS hiện có 6 bộ môn:

1) Toán học, Tin học, Vật lý, Hành tinh và  Vũ trụ;

2) Hoá học;

3) Sinh học, Di truyền học, Khoa học liên quan đến sự sống;

4) Con người và Xã hội;

5) Môi trường và Phát triển bền vững;

6) Công trình Kỹ sư và 2 Viện khoa học: Viện Quốc gia Vật lý Hạt nhân và Vật lý Hạt cơ bản; Viện  Quốc gia Khoa học Vũ trụ.

Các ngành khoa học sử dụng toán nhiều như: Tin học, Vật lý và Nghiên cứu Vũ trụ được kết hợp với ngành Toán học để lập thành một bộ môn chung (Bộ môn 1) nhằm tạo điều kiện cho việc cộng tác giữa các nhà khoa học được tiến hành dễ dàng. Hai Viện Quốc gia nói trên cùng hoạt động kết hợp với Bộ môn 1.

CNRS có 26.000 nhân viên, trong đó 11.600 người là nghiên cứu viên và 14.400 người là kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên hành chính. Ngoài ra, còn có khoảng 18.000 giảng viên của các trường đại học và 15.000 sinh viên tham gia vào các công trình nghiên cứu và làm luận án.

Ngân quỹ hàng năm lên tới 2,2 tỷ euros, trong đó khoảng 70% là để  trả lương cho nhân viên. Ngót 90% ngân quỹ là do nhà nước cung cấp, số ngân quỹ còn lại từ nguồn thu nhập của các bằng sáng chế và  hợp đồng với các công ty. Sự chuyển giao công nghệ giữa các phòng thí nghiệm của CNRS và các doanh nghiệp cũng là một phương thức khuyến khích các nhà khoa học lưu ý tới khía cạnh ứng dụng của những công trình nghiên cứu của họ. Việc đánh giá thường xuyên những thành quả mà CNRS đạt được do một Ủy ban nhà nước đảm nhiệm. 

Cộng tác với cơ quan khoa học nước ngoài

Mặc dù tình trạng kinh tế khó khăn, nhưng hiện nay việc trao đổi kiến thức với các cơ quan nghiên cứu nước ngoài vẫn là một hoạt động quan trọng của CNRS. CNRS chú ý đến sự cộng tác với Cộng đồng châu Âu và đã có hơn 100 đề án hợp tác khoa học và hơn 20 phòng thí nghiệm liên kết với các nước trong Cộng đồng. Những nước có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật cao như Mỹ, Nga và Nhật cũng tham gia vào những đề án nghiên cứu khoa học đó. Hiện nay, trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu của CNRS có khoảng 1.300 nhân viên là người nước ngoài. Sự cộng tác với các nước châu Á đang phát triển, như Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang gia tăng. Sinh viên và thực tập sinh của những nước này, kể cả Việt Nam, đã sang Pháp làm luận án và công tác trong các viện nghiên cứu của CNRS.